Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Loi Chua

HÃY ĐI LOAN BÁO TIN MỪNG(Chúa nhật 14 thườngniênC) Lc 10, 1-12,17-20

Việc truyền giáo hay loan báo Tin Mừng là bản chất của Giáo Hội Chúa Kitô (x. Công đồng Vatican II, Sắc lệnh Ad Gentes, số 4, 16), dựa trên sứ mạng mà Chúa Cha đã giao cho Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21)  Sứ mạng mà chính Đức Giê-su đã ôm ấp và thao thức khi Ngài nói với các Môn đệ: “ Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt lúa về” (Lc 10, 2). Ngay sau đó Đức Giê-su đã sai từng hai người một trong số 72 môn đệ ra đi gặt lúa về.

Từng hai người một: công việc của Chúa đòi hỏi có sự cộng tác, chia sẻ và nâng đỡ nhau. Người Việt nam có câu: “ Ra ngoài chị ngã em nâng”. Người môn đệ của Chúa phải luôn có sự nối kết, gặp gỡ và hoà đồng trên bước đường truyền giáo, vì những nẻo đường đi qua và được Chúa sai đến có thể: “ Như chiên con đi vào giữa bầy sói (Lc10,4). Sống với, cho và vì anh chị em, như một dấu chỉ để minh chứng sự thật toàn diện về Chúa Giê-su. Không ai có thể tin vào Đấng mà họ không trông thấy bao giờ, nếu không có người nói về Đấng ấy. Từng hai người một như là một minh chứng hữu hiệu cho mọi hoạt động Tông đồ, quy hướng về chính Đức Giê-su Ki-tô.

Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép: như một quy luật tất yếu của người theo Chúa, vì: “ Chim trời có tổ, con chồn có hang và con Người không có nơi gối đi”, “Ra đi là chết trong lòng một ít”. Người học trò của Thầy Giê-su không bám víu vào các thực tại trần gian một cách quá lệ thuộc. Hành trang là kinh nguyện, ân sủng trong các Bí tích, và luôn khắc ghi vào lòng: “Không có Thầy, chúng con không làm gì được”.

Anh em hãy đi khắp thế gian, loan Tin mừng cho mọi loài thụ tạo (Mc 16,15). Chúa rất cần sự cộng tác một cách quảng đại và vô điều kiện của từng người. Đã đến lúc lên đường, mùa gặt đã chín, cánh đồng phơi phới dưới nắng ân sủng rực tràn. Lòng hân hoan nối tiếp gót chân vàng của 72 môn đệ, chúng con nguyện ra đi, làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Chúa.


Lm Giacobe Tạ Chúc.

Cha

NGÀY CỦA CHA

Cơn mưa chiều bất ngờ ập đến, những làn gió theo mưa vào hạ, con đường sủng ướt nước cuốn theo. Ngồi một mình trong căn gác vắng, hắn cảm thấy nhớ cha vô cùng. Nhất là mỗi lần tháng sáu trời mưa, trời mưa không dứt. Từ ngày mất cha, cũng là lúc hắn cảm thấy thiếu đi một điều gì đó, mà không sao có thể bù đắp nỗi.

Kỷ niệm mãi khắc ghi, hình bóng người cha thân yêu trong hắn luôn là một ký ức len lỏi vào trong những nỗi nhớ niềm thương, không phải bất chợt, mà là những khoảng khắc khó phai mờ trong lòng hắn. Một thưở còn thơ, có thể khi trí khôn hắn bắt đầu xếp thành lớp những hình ảnh tạo thành từ những miền còn ấu thơ. Cha thường chở hắn đến trường. Mỗi tối, sau một ngày vất vả, cha cõng hắn trên vai, rảo qua các con hẻm và ghé lại các tiệm bán bánh kẹo, bán đồ chơi. Hắn tha hồ theo tiết tấu của nhạc khúc: lộc cà lộc cà lộc, nhong nhong nhong, cha làm con ngựa, để cho con vui cỡi con ơi…Cha hắn làm trong bệnh viện, ngoài giờ hành chánh, ông lại chạy xe ôm để kiếm thêm tiền nuôi anh chị em hắn đi học. Những ngày chúa nhật, sau giờ tan lễ, cha lại chở anh em hắn ra bền sông Bạch Đằng, để ngắm nhìn dòng sông và những con tàu cập bến. Tuổi thơ hắn trôi đi trong vòng tay yêu thương của cha thật ngọt ngào.
Sau biến cố năm 1975, gia đình hắn loạn lạc, cha phải trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, vào sinh ra tử để gia đình được yên hàn. Sau thời binh biến, cha phải nhọc nhằn vất vả, một nắng hai sương, gồng gánh bằng mồ hôi và nước mắt để nuôi hắn ăn học, trong thời buổi khó khăn, gian khổ. Cứ thế và thời gian trôi đi, hắn lớn khôn mỗi ngày và cha cũng ngày một già hơn. Sau nhiều năm quá vất vả, và rồi để một ngày, cha mãi mãi ra đi, bỏ lại hắn và gia đình trong nỗi đau tê tái lòng. Mất cha, hắn không tài nào nguôi ngoai được, câu ca dao mà người ta thường nói thật là ý nghĩa vô cùng:
“ Còn cha gót đỏ như son,
Một mai cha chết, gót con đen sì”
Nhân ngày của cha, hắn lặng lẽ bên căn gác với cung đàn nhỏ giọt thê lương. Chiều lại mưa, những giọt mưa lạnh lùng phủ kín đường vào nghĩa trang heo hút gió lạnh đầy. Hắn đốt vội điếu thuốc, đưa lên miệng để phả một vài làn khói xua tan đi cái lạnh của chiều mưa. Xa xa, con đường mờ mờ,  ẩn khuất dưới cơn mưa buổi chiều. Lòng hắn cảm thấy lạnh lạnh khi khói nhang trên bàn thờ sắp tàn, và chiều vội vã giăng màn theo cơn mưa, nỗi nhớ cha dai dẵng, như không thể dứt  trong cơn mưa của một buổi chiều .


Lm Giacobe Tạ Chúc 

Mua ha

NỖI LÒNG MÙA HẠ

Cố nhạc sỹ Thanh Sơn đã viết trong ca khúc: “Nỗi buồn hoa phượng” rằng: “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn, chín mươi ngày qua chứa chan tình thương”, vâng là thế khi những cơn mưa chợt đến, chợt đi. Hoa phượng thắm đỏ như máu con tim. Ve buồn tấu khúc biệt ly nhớ nhung từ đây. Tuổi học trò vội vã cuốn theo những chiều mưa mùa hạ, mưa mùa thi và mưa bên cửa lớp. Ai cũng một lần, gọi mùa hạ nắng lên thắp đầy, và mưa lất phất bay trong một chiều chúa nhật hẹn hò đây đó.

Mùa hạ khép lại tuổi học trò và mở ra biết bao hoài bão. Áo trắng thư sinh, viết nên bao câu chuyện tình đẹp nhất trần gian. Tuổi chữ I, chữ tờ, cứ mãi loay hoay để rồi đến lớp phải ăn một quả trứng vịt thật to tướng. Tuổi một thời: “Trốn học đuổi bướm cạnh cầu ao”( trong bài thơ Quê hương của Giang Nam). Ôi tuổi của những ngày tháng hạ rong chơi thả diều, bắt dế, đá banh…Sân trường vắng hoe khi ve sầu khóc nức nở. Thi vị và cũng thật tội nghiệp cho sân trường, những ngày hạ mưa trắng xoá và buồn bã,  khi vắng tiếng nô đùa của lũ học trò,  tiếng giảng bài thánh thót của thầy cô, tiếng của những chú chim sâu chuyền cành tìm mồi mỗi sáng. Hạ đong đầy những nỗi nhớ niềm thương. Tìm nhau qua mấy thưở bạc đầu. Se chỉ tay vẫn thấy màu mực đọng qua năm dài tháng rộng. Hồn nhiên như tuổi học trò, tan trường như ong bầy vỡ tổ. Hạ về sách bút tạm gác qua một chỗ, các cô cậu năm cuối cấp canh cánh một gánh nặng của những nhọc nhằn, pha lẫn âu lo. Rồi đây tương lai sẽ ra sao, đậu tú tài, đậu dại học. Cánh cửa giảng đường đại học có rộng mở hay phải vào qua cửa hẹp. Tốt nghiệp đại học, cao đẳng rồi vẫn thao thức với chuyện nghề nghiệp, lương bỗng. Thì ra mùa hạ có  lắm điều phải nói, phải gói trọn những tâm tình. Đôi khi chạnh lòng, với những xao động lúc bình minh hay khi hôn hoàng. Mùa hạ vẫn tự bao đời: rung cảm và lãng du như những thi sĩ tài  hoa  trong cuộc đời.

 Cám ơn những cơn mưa chiều mùa hạ. Có ướt át, có chút se lạnh nhưng vẫn nồng ấm hương kinh của những tín hữu sùng đạo cất lên từ một xóm nhỏ nào đó trong chiều mưa bay.


Lm Giacobe Tạ Chúc 

chia se

NỖI ĐAU NGÀY MẤT CHA

Cha tôi ra đi vào ngày mồng hai tết, giữa mùa xuân đang mọng chín ngọt lành. Sáng thức dậy, đang chuẩn bị cho giờ kinh đầu ngày và thánh lễ cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, nhân dịp đầu năm mới. Bất chợt, chuông điện thoại reo lên. Tôi nhận được tin từ đứa cháu: “Ông mất rồi, chú về đi”. Trời đất như sụp đổ, tôi gào lên và gọi trong nghẹn ngào hai chữ: “ Ba ơi”.

Gắng gượng dậy để che dấu đi một nỗi mất mát quá lớn lao, tưởng chừng như không sao vượt qua được. Tôi kết những dòng lệ thành lời kinh ban mai của một ngày đầu xuân dâng lên Thiên Chúa, tôi tin Ngài và mãi mãi tín thác vào Ngài. Thế nhưng, trong phận người bất tất, tôi không sao cản nỗi trên hai gò má, những dòng lệ tuôn rơi. Tội nghiệp các em lễ sinh, chúng không sao hiểu được, sao cha lại khóc? Lời của bài hát : “ Ngày đầu xuân bao người đi xa, cũng về với gia đình”, càng làm tim tôi se sắt. Tôi chưa kịp về để mừng tuổi ba, thì ba đã ra đi vĩnh viễn khỏi cỏi đời này. Phải chăng trong trách nhiệm của một vị Mục tử, tôi phải làm tròn sứ mạng mà Chúa và Giáo hội đã uỷ thác. Tôi dâng Thánh lễ trong nhạt nhoà nước mắt, và có lẻ, đó là một thánh lễ tôi cử hành với một niềm xác tín mãnh liệt nhất trong đời. Cầu cho ông bà tổ tiên, những người đã ra đi, hay còn ở lại. Tất cả là hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa, Đấng hằng yêu thương con người đã ban tặng. Ba mất, chúng tôi cảm thấy hụt hẫng vô cùng, từ đây, mỗi lần về thăm nhà, tôi không thể nhìn thấy bóng hình cha yêu nữa. Công đức sinh thành, dưỡng dục, suốt đời làm sao tôi quên được. Dù rằng đã lớn khôn, nhưng với ba tôi vẫn thấy mình như trẻ thơ ngày nào.

Trong đời, ba mong ước được ra đi bình an, và điều đó đã được toại nguyện. Ba còn mong sao thánh lễ có nhiều cha đồng tế, và chắc rằng ba đã thoả mãn những ước mơ. Khép lại nỗi đau riêng để bước vào một hành trình thiêng liêng, của Mùa chay và Năm đức tin. Tôi cảm thấy một niềm bình an nhẹ nhàng, và một thoáng gió xuân mang theo niềm tri ân, và niếm cậy trông vào sự quan phòng của Đấng là Cha hết mọi loài.

Lm Giacobe Tạ Chúc


Thứ Năm, 11 tháng 7, 2013

LUẬT TRÊN HẾT CÁC LUẬT

Chúa nhật 15 – Lc10, 25-37

Có lẽ từ khi có con người, là lúc những rắc rối luôn xảy ra. Nếu Thiên Chúa không tác thành Adam thì không có gì để nói, và nếu vườn địa đàng ngày ấy thiếu bóng Eva, chắc nhân loại bớt khổ đau hơn. Nhưng dẫu sao, nhân loại vẫn mang hình hài của một vị Thiên Chúa: Sáng Tạo và Quan phòng bằng chính tình yêu của Ngài. Ngài mời gọi con người đón nhận tình yêu và trao ban tình yêu. Giữa rất nhiều những lề luật của những người Do thái ( 613 luật, trong đó 248 điều phải làm, và 365 điều cấm). Đức Giêsu với tư cách là Con Thiên Chúa, Thầy thông luật, Ngài chỉ đưa ra có hai điều, hai mà một, một mà hai : Mến chúa, yêu người.

Thực ra hai giới răn này Đức Giêsu đã lấy lại từ trong cựu ước mà cụ thể là trong sách Đệ Nhị Luật có viết: “Ngươi sẽ yêu mến Giavê Thiên Chúa của ngươi hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, và hết sức lực ngươi”(Đnl 6, 5), và trong sách Lêvi cũng nói: “Ngươi sẽ không báo oán, không cựu thù với con cái dân ngươi, nhưng ngươi sẽ yêu mến đồng loại ngươi như chính mình”(Lv 19,18). Chính lề luật đã làm cho nhiều người không giữ nổi, và cũng không biết điều nào chính yếu, điều nào tuỳ phụ. Đức Giêsu đã làm nhẹ bới gánh nặng mà các Luật sĩ, Biệt phái và những người thông luật đã chất chồng lên đôi vai của những người Do Thái. Ngài cho họ thấy cái cốt lõi của Lề luật là gì. Thánh Phaolô đã diễn tả bằng những từ ngữ như sau : "Ðức Mến thì nhẫn nhục, hiền hậu; không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng vui khi thấy sự ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Ðức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả" (1Cr 13,4-7).

Tin mừng Chúa nhật 15 nằm trong một ngữ cảnh hết sức đặc biệt, có thể nói đây là những cuộc khủng bố Đức Giêsu, nhóm những người Sađốc đưa vấn đề kẻ chết sống lại để gài bẫy Chúa Giêsu, còn những người Biệt phái và Luật sĩ thì chất vấn Chúa về lề luật. Người Luật sĩ hỏi Chúa Giêsu: “ Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”(Lc10, 25). Và Đức Giê-sa đã chỉ ra cho anh, bằng giới luật yêu thương như khuôn vàng thước ngọc.

Giới răn trọng nhất

Nếu có ai đó hỏi tôi: “ Đối với bạn điều gì quan trọng nhất”, câu trả lời có lẽ nhiều lắm. Sức khoẻ, vâng không có nó tôi sẽ không làm được gì, thiếu nó tôi sẽ không thể suy nghĩ, hoạt động và thực hiện những ước mơ của mình. Hãy hỏi những người vừa thoát qua những cơn bệnh hiểm nghèo, để thấy sức khỏe quý giá vô cùng. Tiền bạc, vâng quý lắm và cần thiết lắm. Không có nó tôi cũng như người cụt tay, những dự án chỉ trên sách vở chứ không mang ra thực hành. Danh vọng và lạc thú, nó có sức thu hút rất mạnh liệt, biết bao cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt đã xảy ra chỉ vì hai anh này. Tình yêu, quan trọng vô cùng, nhưng chưa đủ khi không phải là tình yêu của Thiên Chúa. Giới răn trọng nhất mà Chúa Giêsu đã dạy cho con nguời là: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi và hết trí khôn ngươi. Thứ đến cũng giống như điều ấy: ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình ngươi”(Mt 22, 37-38). Sống là một lựa chọn, nếu mỗi người đã chọn Chúa thì cũng có nghiã là chấp nhận mọi thua thiệt vì Danh Chúa. Yêu mến Chúa cũng là yêu thương anh em như chính mình. Chúa Giêsu dùng lối so sánh cực cấp để cho thấy điều răn quan trọng nhất và lớn nhất. Là người Kitô hữu, cần có bổn phận thi hành giới răn của Chúa.

Mến Chúa có dễ không ?

Câu trả lời có lẻ là dễ, vì ai cũng có thể làm được. Thánh Phêrô cũng đã từng nói: “ Lạy chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết con yêu mến Chúa”. Thế mà trong hồi thương khó, Phêrô lại chối Chúa. Nhiều người đến nhà thờ mỗi ngày, đọc kinh, rước lễ, hoạt động công tác Tông đồ, rất siêng năng, đạo đức thánh thiện. Những điều này chứng tỏ họ yêu mến Chúa. Khi đi đàng Thánh Giá, hay cử hành các nghi thức tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu, rất nhiều người khóc, khóc sướt mướt., những giọt lệ cảm thông và yêu mến Chúa. Yêu mến Chúa, rất dễ, vì Chúa ở trên cao, Chúa Giêsu tay chân Ngài bị cột chặt trên Thập Tự Giá, Ngài không làm gì mất lòng ai, nên yêu mến Ngài dễ, dễ lắm. Nếu không tin thì cứ thử, thử yêu Ngài rồi sẽ thấy dễ để yêu Chúa lắm.

Thương người thì sao?


Chúa Giêsu có lần Ngài đã bảo, không phải những kẻ lạy Chúa, lạy Chúa là được vào thiên đàng cả đâu, nhưng chỉ những ai nghe và giữ lời Chúa mới được vào Nước Trời. Thương người như thể thương thân, nói thì dễ mà làm mới khó. Theo lẽ tự nhiên, mỗi người chỉ thích yêu những người yêu mình, những người ủng hộ mình, giúp đỡ mình. Còn lại thì chúng ta sống thờ ơ, lãnh đạm với anh em. Còn Chúa, Ngài dạy yêu thương hết mọi người và bằng  một cách quảng đại, ngay với cả kẻ thù mình: “Anh em đã nghe luật dạy rằng : Hãy yêu thương đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em : Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5, 43-44). Yêu người không phải chỉ là lý thuyết nhưng là hành động, cụ thẻ bằng những việc làm của mình. Dụ ngôn mà Tin mừng ghi nhận về người Samaria nhân hậu là một thí dụ điển hình cho cuộc sống của chúng ta. Yêu thương nhau như chính Chúa đã yêu thương chúng ta. Thương yêu cần sự đáp đền từ hai phía: người yêu và kẻ được yêu. Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta qua thư gửi cho tín hữu Do Thái : “Chúng ta hãy để ý đến nhau, làm sao cho người này thúc đẩy người kia sống yêu thương và làm việc tốt” (Dt 10,24).

Tình yêu là đề tài xưa như trái đất, thế nhưng nó là nguồn gợi hứng rất phong phú cho các nhà thơ, văn, kịch nghệ, và nhiều người tuôn tràn những cảm xúc, tự tận đáy lòng. Một em học sinh hy sinh mạng sống để cứu bạn, một nhóm tình nguyên viên lên đường đến nhũng nơi bị thiên tai, lũ lụt để giúp đỡ. Một Maximilia Kolbê đánh đổi mạng sống mình để cứu lấy bạn tù, một mẹ Têrêxa Calcuta luôn giúp đỡ những người nghèo bị bỏ rơi, một Đức cố  Hồng y Fx: Nguyễn Văn Thuận, một Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, luôn là những dáng dấp và chỗ đứng của Thiên Chúa, cho con người trong thế giới ngày hôm nay.
Hãy yêu nhau như Chúa đã yêu và đã dạy mỗi người:
Vì yêu, Thiên Chúa đã trao ban cho thế gian chính “Con Một” yêu quí của Ngài (Ga 3,16).
Vì yêu, Đức Giêsu đã tự cúi mình rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,4-15).
Vì yêu, Đức Giêsu đã tuyệt đối vâng lời Chúa Cha, cho dù bản thân Ngài không muốn (Lc 22,42).
Vì yêu, Đức Giêsu đã tự hiến thân mình làm lương thực nuôi dưỡng con người (Mt 26, 26 - 28).
Và đỉnh cao của tình yêu mà Thiên Chúa dành cho loài người chính là cái chết trên Thập giá. Một tình yêu trao ban trọn vẹn. Một tình yêu tuyệt đối. “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Và câu trả lời mà Chúa Giê-su dành cho nhà thông luật, cũng dành để cho mỗi chúng ta: “ Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy và ông sẽ sống” (Lc 10, 28).

Lm Giacôbê Tạ Chúc


suy niem

LỜI THÌ THẦM CỦA CHA
Con biết không, cha yêu con! Từ đời đời và mãi mãi.  Trong hư vô và vào hiện hữu. Nếu không, con sẽ không có trên cõi đời này, con yêu ạ.
Lúc con còn trong bụng mẹ, ngay  cả khi con chưa thành  hình trong dạ mẹ, vâng Cha đã nâng niu và ẵm bồng con. Luôn luôn sự có mặt của con trên đời, là một vinh quang  trong tình yêu tác tạo của Cha. Con nghĩ xem, trong muôn loài Cha đã dựng nên, có loài nào có được vóc dáng và khôn ngoan như con đâu. Mặc dù tội lỗi đã làm con hoen úa, sự bất trung như thảm họa làm con phải cách xa Cha, nhưng con hãy luôn nh cho rằng: mãi mãi tình Cha không đổi thay bao giờ. Cha đã tạo dựng nên con và không bao giờ hối hận, vì sao đã sinh ra con, và vì sao phải cứu độ con. Con hiểu không, ở Cha luôn là một tình yêu Phụ tử và bất diệt. Có khi nào con cảm thấy thật sung sướng khi trên đời này, mình có một người Cha thật tuyệt vời như vậy không? Mà dù con có thế nào chăng nữa, Cha vẫn không bỏ rơi con trong tuyệt vọng. Cha vẫn luôn là người Cha tốt lành, nhân hậu và xót thương.
Con yêu, hãy mau quay về với Cha, vì nhà Cha có rất nhiều tiện nghi, nơi ăn, chốn ở, con sẽ không thiếu thốn sự gì, hãy về nhé con yêu của Cha.

Lm Giacobe Tạ Chúc

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

LỄ THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ (3/7)

Thánh Tô-ma là người Do-thái ở Ga-li-lê. Mặc dầu ít học, nhưng Ngài lại rất thực tế, không phải chấp nhận dễ dàng khi nghe mà không  tìm tòi, không kiểm chứng: “nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Ngài nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Ngài, tôi chẳng tin”(Ga 20,25). Khi được Chúa gọi, ngài đã sẵn sàng bỏ mọi sự đi theo Chúa, và được chọn vào số các tông đồ.

Mỗi lần nói đến Tôma, chúng ta nghĩ ngay tới một tông đồ cứng tin, mà mỗi lần nói về ai đó cứng lòng, nghi ngờ về Thiên Chúa thì lập tức chúng ta đưa Tôma ra làm thí dụ.

Cũng thật tội nghiệp cho Ngài, đi theo chúa bao năm, cũng vất vả, cũng vô vàn những gian lao thử thách,Tôma được mô tả như một con người sáng suốt, thực tế quả cảm, theo Phúc âm của Gioan. Khi cùng với Chúa Giêsu và các tông đồ lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua, Tôma đóan chắc những việc lớn lao sẽ diễn ra ở Giêrusalem nên ngài tuyên bố: “Chúng ta hãy cùng đi để chết với Người”(Ga11,16). Vậy mà không biết lý do gì, xui xẻo cho Tôma, ông không có mặt trong lần hiện ra của Chúa Giêsu với các Tông đồ (Ga 20,19 – 24). Lần ấy ông chỉ nghe thuật lại, các tông đồ khẳng định họ đã gặp Chúa Giêsu Phục sinh:“ các môn đệ khác nói với ông : chúng tôi đã được thấy Chúa” (Ga 20, 25). Thấy Chúa à? Các anh nói sao chứ, với tôi thì còn kiễm chứng đã, tôi chưa thể chấp nhận. Không phải Tôma không tin Chúa, bởi vì ngài đã làm môn đệ của Chúa Giêsu. Trong con người Tông đồ có biệt danh là Điđymô nghĩa là song sanh có một cái gì đó mời gọi khám phá và bước vào, cho một hành trình đầy những thách đố như các nhà thám hiểm chinh phục các đỉnh núi. Đức cố Giáo hòang Gioan Phaolô II đã viết trong thông điệp: “Đức tin và lý trí” rằng: “Đức tin và lý trí như đôi cánh giúp cho trí tuệ con người băng mình lên để chiêm niệm chân lý”. Chấp nhận tin Chúa không có nghĩa là thụ động: há miệng đợi sung rụng, mà phải hòai nghi để thăng tiến và đón nhận, dấn thân phục vụ cho tin mừng. Có lẽ chúng ta phải tôn Tôma làm thầy của vị thánh tiến sỹ thiên thần là Tôma Aquinô , Ngài đã cho thấy một cái nhìn tổng hợp giữa đức tin và lý trí, siêu nhiên và tự nhiên, triết học và thần học tất cả đều dựa trên đức tin mạc khải. Hai con đường tìm kiếm Thiên Chúa mà Giáo hội vẫn dùng để mời gọi con người đón nhận Mạc khải là yêu mến(Augustinô), và hiểu biết( Aristote). Đức Giêsu chấp nhận đề nghị của Tôma, lần hiện ra này có cả ông cùng các tông đồ khác:“ Rồi Người bảo ông Tôma:“Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa  nhưng hãy tin “(Ga 20, 27). Lý trí con người luôn có những giới hạn nhất định: không gian, thời gian, môi trương, hòan cảnh … Tôma bị chi phối trong một không gian rộng lớn mà với trí hiểu quá nhỏ bé, ông không thể trực diện với Chúa mọi nơi trong chính con người của mình. Phải có ơn soi sáng và sự trợ giúp tận tình để khai thông trí hiểu và niềm tin nơi ông. Đức Giêsu đã cho chúng ta một câu trả lời đầy đủ nhất :“Vì đã thấy Thầy nên con tin. Phúc thay những người không thấy mà tin ! “( Ga 20 , 29)

Con người ngày nay cũng thích truy tầm chân lý, họ mang trong mình những khát vọng sâu xa nhất, khám phá Thiên Chúa  cũng như bơi trong đại dương bao la bất tận, chẳng biết đâu là bến bờ . Cám ơn tông đồ Tôma vì nhờ ông mà mọi người đều có thể gặp được Đấng Phục Sinh , không phải một Đức Giêsu trên sách vở mà ngay trong chính cuộc đời .


Lm Giacôbê Tạ Chúc .