Thứ Năm, 10 tháng 11, 2016

BÀI ĐỌC LỄ THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM
Bài đọc 1: Kn 3, 1-9     Trích sách Khôn Ngoan.
Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Đối với con mắt của người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài có chịu khổ hình, lòng trông cậy của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao; vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.
Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu toả ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét sử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.
Bài đọc 2: 1 Cr 1, 17-25 Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, Đức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo Thập giá của Đức Kitô ra hư không.
Vì chưng lời rao giảng về Thập giá là sự điên rồ đối với những kẻ hư mất; nhưng đối với những người được  là chúng ta, thì điều đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì như đã chép rằng: “Ta sẽ phá huỷ sự khôn ngoan của những kẻ khôn ngoan, sẽ chê bỏ sự thông thái của những người thông sáng. Người khôn ngoan ở đâu? Người trí thức ở đâu? Người lý sự đời này ở đâu?” Nào Thiên Chúa chẳng làm cho sự khôn ngoan của đời này hoá ra điên rồ đó sao? Vì thế gian tự phụ là khôn, không theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà nhận biết Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã muốn dùng sự điên rồ của lời rao giảng để cứu độ những kẻ tin. Vì chưng, các người Do-thái đòi hỏi những dấu lạ, những người Hy-lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do-thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo. Nhưng đối với những người được gọi, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, thì Ngài là Chúa Kitô, quyền năng của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì sự điên dại của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sức mạnh của loài người.
Phúc Âm: Mt 10, 17-22
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: “Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho công nghị, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ. Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết. Nhưng khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì. Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì: vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con. Anh sẽ nộp em, cha sẽ nộp con, con cái sẽ chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ”.


Suy-niệm:   CHỨNG NHÂN TÌNH YÊU
Thánh lễ hôm nay đỏ một mầu máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của 118 vị đã được tôn phong lên hàng hiển thánh. Máu ngập tràn chảy suốt hơn 3 thế kỷ truyền giáo tại Việt Nam.
Có điều máu lênh láng nhưng không tanh tưởi bởi không phải là thứ máu oan khốc nơi chiến trường tuôn chảy trong hờn căm oán ghét. Máu đẹp như những cánh hoa vì phát xuất từ tình yêu cao quí. Máu dường như toả hương thơm bởi khơi nguồn từ những trái tim chan chứa yêu thương. Máu không gây ghê tởm nhưng gợi lòng kính trọng. Máu không tạo oán thù nhưng vực dậy yêu thương. Đó là những dòng máu làm chứng cho tình yêu.
Tình yêu Thiên Chúa.
Các thánh Tử Đạo Việt Nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đã nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đã cảm nhận được tình yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền tình yêu đó.
Tình yêu của các ngài là tình yêu hy sinh. Nên các ngài đã từ bỏ tất cả: cuộc sống yên ổn, danh vọng tiền tài, kể cả mạng sống vì Chúa. Thánh Hồ đình Hy sẵn sàng chịu mất chức trong triều đình. Thánh Tôma Thiện vui lòng dâng hiến tuổi xuân xanh với những lời hứa hẹn chức quyền của vua quan. Thánh nữ Anê Lê thị Thành mạnh dạn từ bỏ gia đình êm ấm với những người con ngoan ngoãn dễ thương. Tất cả vì tình yêu Chúa.
Tình yêu của các ngài là tình yêu chung thuỷ. Các ngài yêu mến Chúa khi bình an, các ngài càng yêu mến Chúa trong những gian nan thử thách. Các ngài đã thực hiện lời thánh Phao-lô: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki – tô Giê-su, Chúa chúng ta (Rm 8,35-39).
Tình yêu của các ngài là tình yêu cao quí. Đáp lại tình yêu của Đức Giêsu Kitô đã hiến thân vì các ngài, các ngài cũng hiến dâng mạng sống để minh chứng tình yêu với Chúa. Đúng như lời Chúa nói: Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).
Tình yêu cuộc sống.
Các ngài là những người yêu mến cuộc sống. Không phải một cuộc sống tầm thường nhưng là cuộc sống với tất cả những chiều kích cao đẹp của nó. Cuộc sống với những giá trị thiêng liêng như lý tưởng, như tình yêu, lòng trung tín. Một cuộc sống không nô lệ cho vật chất. Một cuộc sống trung thực không giả dối. Một cuộc sống không bị đóng khung trong thế giới hữu hạn mau tàn nhưng mở ra đến vĩnh cửu. Một cuộc sống không hạ con người xuống nhưng nâng con người lên ngang với các thần thánh. Thật sự yêu mến cuộc sống nên các ngài sẵn sàng hy sinh tính mạng để làm chứng, để bảo vệ và xây dựng.
Tình yêu nhân loại.
Cái chết của các ngài minh chứng một tình yêu vô biên đối với nhân loại. Các ngài không chỉ yêu mến Chúa mà còn yêu mến gia đình. Hãy nhìn cảnh thánh Lê văn Phụng hoặc thánh nữ Lê thị Thành an ủi con cháu trước khi ra pháp trường. Tình yêu thương của các ngài lan cả tới lính gác, cai tù và lý hình. Thánh Lê văn Phụng chữa bệnh cho người cai tù của mình. Tất cả các thánh vui vẻ ra đi chịu chết. Không có ai tỏ lòng oán hận. Và nhất là không có vị nào thù ghét các lý hình.
Tình yêu của các ngài phát xuất từ tình yêu Chúa nên rộng rãi toả lan tới mọi người, mọi nơi các ngài sinh sống. Tình yêu ấy là tình yêu nguyên tuyền nên không biết đến sự thù ghét, nên sẵn sàng tha thứ cho kẻ làm hại mình. Tình yêu ấy như bông hoa vẫn toả hương trong tay kẻ vò nát nó. Tình yêu ấy giống như loài gỗ quí vẫn phả hương thơm cả đến chiếc rìu bổ vào nó (Fulton Sheen).
Động lực hướng dẫn cuộc đời các ngài là tình yêu. Cái chết của các ngài làm chứng cho tình yêu. Đó chính là điều mà ta có thể bắt chước các ngài. Trong hoàn cảnh hiện nay, ta không có hy vọng được phúc tử đạo, nhưng ta vẫn có thể noi gương các thánh Việt Nam làm chứng cho đạo Chúa. Nếu ta không được chết cho tình yêu, ta vẫn có thể sống cho tình yêu. Có lẽ ngày nay Chúa cũng không mong ta chết vì đạo mà mong ta hãy sống vì đạo.
Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam, xin chúc lành cho quê hương và Giáo Hội Việt Nam. Amen
(ĐTGM:Ngô Quang Kiệt).


Thứ Tư, 9 tháng 11, 2016

MUÔN NGÀN ĐỜI CHÚA VẪN TRỌN TÌNH THƯƠNG (Tv 136,2)
Năm Thánh lòng thương xót Chúa gần như khép lại, các cánh cửa có ý nghĩa biểu tượng được mở ra, nay dần đóng lại. Tại các Giáo hội địa phương, dưới sự hướng dẫn của các vị chủ chăn, với những ngày giờ, cách thức, cũng sẽ có những thánh lễ tạ ơn và kết thúc cho một thời gian sống Năm hồng ân của Chúa. Năm thánh lòng xót thương của Chúa được đóng lại, nhưng lòng nhân từ, đại lượng vô biên của Thiên Chúa thì không khép lại bao giờ, vì:
 Hãy tạ ơn CHÚA vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
2 Hãy tạ ơn Thần các thần,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
3 Hãy tạ ơn Chúa các chúa,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.”
Tình thương Chúa trải dài qua bao thế hệ, làm sao con người có thể dùng những ngôn từ, hình ảnh, cách thức vô cùng giới hạn của mình để có thể diễn tả hết được tình thương của Thiên Chúa. Tình thương Chúa đời đời con ca tụng (Tv 89), con chúc tụng và ngợi ca tình thương của Chúa mãi muôn đời, cho đến hơi thở sau cùng, chúng ta vẫn mãi khám phá tình yêu kỳ diệu của Thiên Chúa. Cụ thể trong Đức Giê-su Ki-tô, hiện thân của lòng Chúa xót thương. Như Thánh Gioan Tông đồ đã viết: “ Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3,16). Trong thư gởi tín hữu Ê-phê-sô Thánh Phao-lô cũng khẳng định: “Thiên Chúa giàu lòng thương xót”(Ep 2,4). Giàu lòng xót thương là thuộc tính của Thiên Chúa, nơi Ngài phát xuất tình yêu thương, và tình yêu thương trở thành những hành động cụ thể, qua việc Ngôi Hai Nhập thể để cứu nhân loại. Lich sử cứu độ cho dù được viết với những bất trung, phản bội của con người, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với giao ước, mà Ngài đã ký kết với dân mình. Dân tộc Chúa chọn làm sản nghiệp, và cũng để bày tỏ lòng nhân từ, cảm thông, tha thứ và mãi mãi yêu thương, những kẻ thuộc về mình. Một tình yêu cho đến nỗi đã xé rách cuộc đời của mình, để vá vào nhân loại, mảnh vải mới của tình yêu tự hủy ra không. Thiên Chúa yêu con người đang khi họ còn là những tội nhân. Ngài đi tìm họ như tìm con chiên lạc, đồng bạc bị mất, một đứa con hoang đàng…
Khép lại Năm Thánh không phải là một điểm dừng, mà là một khởi đầu mới cho người tín hữu, đã sống trọn vẹn những ơn thiêng của Chúa mỗi ngày.  Đã có những thực hành, và cũng có những chia sẻ, những bước chân tìm về những nơi hành hương được chỉ định. Tất cả như những cánh cửa mở ra, để vươn tới với những anh chị em đang sống xung quanh mình. Dung mạo lòng thương xót Chúa, chính là Giáo hội, trong mọi tín hữu trên khắp cùng bờ cõi trái đất này.

Lm Giacobe Tạ Chúc

Thứ Hai, 7 tháng 11, 2016

MÙA THU LÁ BAY
Xuân, hạ, thu, đông vần xoay bốn mùa của trời đất. Tiếc rằng ở Việt Nam, những thay đổi của thời tiết đôi khi không rõ nét, làm cho chúng ta khó nhận ra những nét đặc trưng của đất trời. Tháng mười một đang nằm trong mùa thu. Mùa của những chiếc lá vàng rụng rơi bên thềm, của con nai vang ngơ ngác trong tiếng thu thổn thức của Lưu Trọng Lư:
“Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.”
Vâng đời người cũng như những chiếc lá cuối thu, rụng rơi bên thềm. Nơi ba tấc đất mới được gọi là nhà, bởi cuộc sống cỏi đời này thật chóng qua:
 Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục,
mạnh giỏi chăng là được tám mươi,
mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,
cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi”(Tv 90,10)
Những ngày của tháng 11, từ các nghĩa trang của người công giáo, nghi ngút khói hương, các thánh lễ được cử hành như lời nguyện cầu da diết, dâng lên trước tôn nhan Đấng có quyền năng, để ban sự sống đời đời, cho những anh chị em đã ly trần.  Con người sao manh manh đến lạ, chẳng khác nào những chiếc lá úa phai theo thời gian. Nghĩ mà thấy ray rứt đến tận cõi lòng, trong những ngày mưa bão, con số những người mất tích cứ tăng lên dần.  Chết trong nước lũ, chết trong hỏa hoạn ở các quán Karaoke, như làm cho thân phận con người gắn liền với hai chữ: hư vô. “Sinh ký tử quy”, một định luật từ thưở nào, con người sinh ra trong đời rồi lại từ giã cõi đời. Nếu không tin vào sự sống lại trong Đức Ki-tô, thì thật cuộc sống trần gian này chẳng còn ý nghĩa gì. Vì thế, Giáo hội luôn kêu mời mọi Ki-tô hữu nhớ đến những người đã chết, qua việc đọc kinh, đi lễ, viếng nghĩa trang, để tưởng nhớ đến các linh hồn. Giáo hội đang trong thời gian thanh luyện, cần được nhớ đến, nhờ Giáo hội lữ thứ với những nghĩa tình cao đẹp, sẽ mang lại nhiều hoa trái thiêng liêng, cho những linh hồn người đã khuất.
Những chiếc lá vàng rụng rơi, trên những lối đi về, như mang theo cái tàn úa của mùa thu. Mùa man mác giọt buồn không tên. Phận lữ hành bất tất, mong sao giữa nhịp phách của thời gian khỏa vào trong những miền u khuất của kiếp người, sự sống bất diệt từ Đấng Phục sinh. Như thế thu không còn là thu chết, mà mùa thu là khoảng lặng hữu ích cho tâm hồn của mỗi người, để đón nhận ơn tái sinh, và để gặp Đấng là cửa dẫn vào miền ơn cứu độ.
Lm Giacobe Tạ Chúc







Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2016

VIẾNG NGHĨA TRANG LINH MỤC
Hằng năm, tháng 11 cầu nguyện cho các linh hồn. Tại nghĩa trang linh mục, Đức cha Giuse Vũ Duy Thống, hoặc cha Tổng Đại Diện sẽ chủ sự thánh lễ cầu cho các linh mục trong Giáo phận đã qua đời.
Tôi đến sớm hơn nữa giờ, và tản bộ ra nghĩa trang, theo con đường rất đẹp của Giáo xứ Vinh an. Nhìn những hàng cây bạch đàn đứng im lìm giữa những nấm mộ xinh xắn, bé nhỏ nằm kề nhau. Tôi rảo qua một lượt và chậm rãi đọc từng tên một. Mỗi cái tên, mỗi cuộc đời người Mục tử như hiện ra đó đây, rất gần như buổi sớm bình minh vừa thức dậy. Ký ức nhạt nhòa theo năm tháng, thời gian như một mệnh đề vô nghĩa: có có không không. Có những vị tôi đã gặp, đã sống và đã có lần được may mắn cộng tác trong những dịp thực tập mục vụ ở các xứ đạo. Nhưng cũng có những vị chưa từng gặp gỡ bao giờ. Chỉ biết qua từng cái tên hay nghe đâu đó qua những lớp cha anh đi trước kể lại. Nhưng cho dù thế nào, thì cũng không khỏi ngậm ngùi nhớ thương đến những anh em Tông đồ, mà đã một thời phục vụ trên mảnh đất thân yêu của Giáo phận nhà.
Trông người mà nghĩ đến ta, sống và chết nghĩa từ rất đơn gỉan trong cõi đời. Nhưng nó chứa đựng cả một triết lý rất phong phú. Không ai phủ nhận sự chết và cũng chẳng mấy ai không muốn được sinh ra, có mặt trên cõi đời này. Dù nó vô thường và ẩn  chứa cả một bể khổ. Sống chết như hai anh em sinh đôi, hai cá thể mà không thể tách biệt nhau được. Có sinh, ắt có tử chí lý vô cùng. Người xưa thường nói: “ Rắn già, rắn lột da, ta già ta tột vô xăng (quan tài)”, thật thấm thía biết bao. Con người dù uyên bác, học rộng hiểu sâu, hay là những người nông dân chất phác, quê mùa. Sống mỗi người mỗi hoàn cảnh, địa vị, giàu nghèo hay sang hèn. Nhưng khi chết đi, đều giống nhau, nằm yên trong mộ, nằm kề bên nhau. Không tranh chấp, chẳng lợi danh, cũng không tranh giành quyền lợi hay địa vị như lúc còn sống. Lúc sinh thời, các Ngài đã vắt cạn kiệt sức lực của mình để phục vụ đoàn chiên mà Chúa giao phó. Lúc chết rồi mấy ai nhớ tới các Ngài. Có chăng là những lúc lỡ bước qua đường, đến thắp vội vàng nén hương lòng dâng trao. Cám ơn Giáo hội khi dành riêng tháng 11, để cầu ngyện cho các tín hữu đã ra đi. Nhờ đó mà trên các ngôi mộ của các Ngài. Khói hương trầm quyện trong hương hoa tỏa lan lên trước tòa Thiên Chúa.
Tôi thầm mong Thiên Chúa, trên đỉnh cao của lòng xót thương đoái đến những người con đặc biệt của Ngài. Vì dẫu bất toàn và tội lỗi, các Ngài đã đáp lời mời gọi của Thiên Chúa mà đi theo làm Tông đồ của Đức Giê-su. Nắng đã lên cao, một thoáng của làn gió nhẹ cũng bay vào. Đâu đây xôn xao trong tận đáy lòng lời kinh cầu da diết: “ Lạy Chúa xin cho các linh hồn anh em linh mục được nghỉ yên muôn đời”.

Lm Giacobe Tạ Chúc 
TIN SỰ SỐNG LẠI (Lc 20,27-38)
Mỗi một tôn giáo đều có những quan niệm về cuộc sống sau khi chết. Vì suy cho cùng, nếu lý giải chết là hết xem ra không ổn chút nào. Con người “linh ư vạn vật”, “thác là thể phách hồn còn tinh anh”. Phật Gíao có Niết bàn, Hồi Giáo có miền thiên đàng cực lạc. Ki-tô Giáo đó là cuộc sống hạnh phúc trong Nước Trời. Dưới rất nhiều nhãn quan, người ta không thể chối bỏ một cuộc sống sau khi đã chết. Nếu vậy ý nghĩa của đời người thật phi lý, thật buồn nôn, như nhận định của triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre.
Những người Sa-đốc chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp. Theo quan niệm của ông Pla-ton thì thân xác con người là ngục tù giam hãm linh hồn. Con người từ thượng giới đã bị vong thân, nên giải thoát là ra khọi ngục tù thân xác. Vì vậy, khi nghe Đức Giê-su nói về sự sống lại thì họ không thể chấp nhận. Đã mong cứu cánh đời mình là ra khỏi nó để bay vào thế giới ý tưởng, hay là thượng giới. Thật không thể hiểu nổi khi phải sống lại trong thân xác, mà trường phái Pla-ton rất xem thường. Để biện hộ cho lập trường của mình, những người Sa-đốc bèn đưa ra một câu chuyện phù hợp với luật Mô-sê dạy, nhưng rất khó xảy ra không đời sống thường ngày, nếu không dám nói là nó không có thật. Một phụ nữ kết hôn trong một gia đình với bảy anh em trai. Vì theo luật, khi người anh chết đi mà người vợ chưa có con, thì buộc người em kế tiếp sẽ cưới chị dâu đó làm vợ mình. Bảy anh em cùng chung một số phận, đều là chồng của người vợ này và hết thảy đều chết. Vấn nạn trở nên vô cùng éo le, khi vào ngày sống lại, làm sao để giải quyết các trường hợp này. Đức Giê-su chẳng đưa ra một phán quyết hay lời giải thích nào. Ngài chỉ khẳng định: “ Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là hưởng phúc đời sau, và sống lại từ cõi chết thì không cưới vợ, cũng chẳng lấy chồng” (Lc 20, 34-35). Như vậy, Đức Giê-su qua lời giải đáp đã bật mí cho con người biết sự khác nhau giữa đời này và đời sau. Vì Thiên Chúa là Chúa của những kẻ sống, chứ đâu phải của những người đã chết.
Trong những tuần gần hết năm phụng vụ, các bài đọc lời Chúa như được trưng bày qua lăng kính cánh chung. Cuộc sống sau này và số phận mỗi người, sẽ được định đoạt tùy theo những việc mình làm. Thiện ác sẽ được giải quyết một cách dứt khoát. Và Thiên Chúa của tổ phụ Aqp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ac, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Ngài cũng chính là Chúa của mọi con người trên khắp cõi trần gian. Nguyện xin Ngài đưa dẫn tất cả anh chị em vào cõi sống, phúc vinh muôn đời. Amen.

Lm Giacobe Tạ Chúc

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

MỘT CÕI ĐI VỀ
Cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn, dù rằng không phải là một Ki-tô hữu, nhưng đã có những ca từ, về con người, phận người một cách hết sức linh cảm, khi con người sống, chết và đi về đâu. Ca khúc một cõi đi về như dặt dìu con người một thao thức không nguôi, lúc nghĩ về sự sống chết của con người:
“Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt, trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về”.
Đi về nơi mình phát xuất ra. Sách Sáng thế ký cho chúng ta thấy Thiên Chúa dùng bụi đất để dựng nên con người. Ngài dùng sinh khí để thổi hơi và ban sự sống cho mỗi chúng ta. Vì vậy, khi kết thúc cuộc đời này, thân xác được gởi lại cho lòng đất, và phần linh hồn thuộc về Đấng tạo thành ra nó. Có một triết gia đã nói rằng: “ Quên lãng một người đã chết, tức là bắt họ chết thêm một lần nữa”.
Giáo hội ý thức rằng, ngoài các Thánh ở trên thiên đàng, đang được hưởng phúc vinh quang, thì vẫn còn nhiều các linh hồn đang trong thời gian thanh luyện. Các Ngài cũng sẽ được vinh phúc trên thiên quốc, sau khi đã trải qua thời gian trong luyện ngục. Việc nhớ đến các Ngài trong tháng mười một, là một nghĩa cử cao đẹp, của mỗi chúng ta, khi cầu nguyện cho các linh hồn. Tổ tiên mỗi người, những anh chị em đã trải qua một cuộc đời dương thế, với biết bao nhiêu hy sinh, nhọc nhằn và vất vả. Các Ngài là những con người có thể cùng thời hay khác thời với chúng ta. Những dấu ấn qua thời gian của các vị như vẫn đang phảng phất đâu đây, trong riêng một góc trời. Các Ngài đã không còn hiện diện một cách thể lý trước mặt mọi người, nhưng niềm tin vào sự sống đời đời, không cho phép chúng ta quên lãng các Ngài. Một nén hương lòng đốt lên, một câu kinh gãy khúc giữa lúc sáng tối phận người, chắc sẽ giúp ích nhiều cho các linh hồn, để bớt đi sự bất xứng, của các Ngài, và xứng đáng đón nhận ơn cứu chuộc của Đức Giê-su Ki-tô.
“Ai tin Ta sẽ không chết bao giờ”, lạy Chúa Giê-su, xin cho tâm hồn chúng con luôn tìm Chúa như nai rừng khát khao dòng suối mát, như đất khô mong đợi mưa rào, như đêm về thao thức đợi hừng đông. Để một khi tưởng nhớ đến các đẳng linh hồn, chúng con cũng nhớ về cố hương, nơi mình đã từ đó ra đi, và mai này, quay trở về nhà Cha trên trời. Amen.
Lm Giacobe Tạ Chúc



CÁC THÁNH LÀ NHỮNG CHỨNG NHÂN CỦA TIN MỪNG
Lễ các Thánh Nam Nữ mở ra cho con người, cách riêng cho những người Ki-tô hữu một niềm hy vọng khải hoàn. Bởi chưng, nếu như cái chết là một giới hạn và sự bất lực của con người, thì sự sống vinh hiển nơi các Thánh lại là một sức mạnh của niềm hy vọng cho nhân loại. Mừng lễ các Thánh trên trời, là để mỗi người thấy rằng cái chết không phải là điểm kết thúc, mà là điểm khởi đầu cho hành trình mới, cuộc sống mới của mỗi chúng ta.
Sách Khải Huyền ghi nhận có hằng hà sa số các Thánh, không sao có thể kể xiết. Một số trong các Ngài được Giáo hội công nhận, nhưng không phải là hết. Các Thánh rất đông đảo, bởi vậy chúng ta cử hành ngày lễ hôm nay, để tôn vinh các Ngài, một đạo binh đông đúc đang hưởng phúc trong vinh quang. Giáo hội Khải hoàn là một điểm hẹn sau cùng cho người Ki-tô hữu. Cha ông chúng ta, những người thân yêu trải qua mọi thời đại đã sống tin mừng, sống lý tưởng các mối phúc, một cách tròn đầy nhất, các Ngài đã được triều thiên vinh quang của Đức Giê-su. Sau một chặng đường dài, với những gian lao, thử thách. Các Ngài đã được kể vào số những người đã được tuyển chọn. Với mọi thành phần, quốc gia, giai cấp, tuổi tác…Những người nô lệ, hay tự do, Hy lạp hoặc Do thái. Tất cả các Ngài đã làm chứng cho Tin mừng của Đức Giê-su. Vì thế, các Ngài xứng đáng lãnh nhận phần thưởng nước trời, và đã trở nên những tấm gương sáng ngời cho đoàn con cháu chúng ta. Nếu hạnh phúc là một khát khao, và là một cuộc đấu tranh để đi tìm. Thì với các Thánh, khát khao chảy bỏng nhất của các Ngài là trở nên: nghèo khó, hiền lành, công bình, thương xót, chịu bách hại vì Danh Chúa… Cũng vậy, đấu tranh của các Ngài là chiến thắng ba thù: ma quỷ, thế gian và lạc xác thịt. Các Ngài đã trung kiên và bền bỉ đi theo Chúa cho tới cùng, vì vậy, các Ngài đáng được Giáo hội chúc tụng và suy tôn.
Lạy Chúa Giê-su, hành trình nên thánh là một lời mời gọi cho mỗi chúng con. Có thể được, là bởi vì các bậc tiền bối của chúng con đã minh chứng cho điều này. Xin các Thánh là những người thân yêu của chúng con, luôn chuyển cầu lên Thiên Chúa, để Ngài nâng đỡ sự yếu đuối của mỗi người, và cho chúng con cũng nên thánh ở giữa cuộc đời. Amen.
Lm Giacobe Tạ Chúc